Tương lai ngành công nghệ thông tin và điện tử viễn thông (ICT)

Tương lai ngành công nghệ thông tin và điện tử viễn thông (ICT)

Tầm nhìn của NamVision viết năm 2015 về tương lai ngành ICT giai đoạn 2016-2026. Đây là tuyên ngôn nhắm tới các công ty trong liên minh cũng như khách hàng, đối tác. Những doanh nghiệp cùng quan điểm xin liên hệ với tác giả qua Facebook để kết nối doanh nghiệp.

Hội tụ nhà cung cấp

“Hội tụ nhà cung cấp” là mô hình kinh doanh kiểu một công ty cung cấp 1 nhóm dịch vụ (DV) và sản phẩm, mà vốn trong quá khứ được cung cấp bởi nhiều công ty khác nhau. Trong ICT, ban đầu việc hội tụ được phổ biến bởi mô hình 3 trong 1 “triple play”, tức là 1 dây thuê bao nối tới khách hàng sẽ cung cấp 3 DV: Thoại, TV, Internet băng rộng, tạm gọi chung là ISP (Internet Service Provider) vì Internet là nền tảng công nghệ chung của cả 3 DV. Qua thời gian, gói 3 trong 1 có xu hướng mở rộng thành gói 4 trong 1 “quadruple play”, tức là bao gồm thêm DV truy cập không dây di động (điện thoại di động và Internet di động), Việt Nam chưa nhà cung cấp nào bán gói này, thế giới cũng chỉ mới manh nha, nhưng mô hình này chắc chắn sẽ là xu thế của tương lai. Trong lịch sử phát triển công nghệ, các nhà cung cấp lớn thường bắt đầu từ nhà cung cấp điện thoại cố định tiến lên cung cấp thêm Internet cố định, nhưng rồi hầu hết các tay chơi lớn đều bổ sung 1 cách tự nhiên thêm mạng di động, trong 1 thời gian ngắn thì dịch vụ di động vượt xa về giá trị so với dịch vụ cố định.

Việc kết hợp Internet cố định và Internet di động trong cùng 1 gói dịch vụ là rất quan trọng vì người dùng truy cập Internet di động thì thôi dùng Internet ở nhà và ngược lại, nên việc chỉ bán mỗi 1 phần Internet cố định, sẽ thua về tính cạnh tranh với bên bán kèm Internet cố định + Internet di động. Nếu bán 1 nửa, tính giá 1 nửa, thì sẽ tốn kém cạnh tranh về mặt chi phí, vì buổi tối người ta dùng mạng cố định ở nhà thì mạng bị nghẽn, ban ngày người dùng di động thì mạng bị bỏ phí.

Ở VN FPT không chuyển đổi thành công sang thành nhà cung cấp di động, nên mặc dù bây giờ vẫn rất lãi, nhưng chắc chắn mảng viễn thông của FPT sẽ chỉ còn trụ được trong thời gian vài năm. Khi Viettel và VNPT bán kèm Internet cố định vào Internet di động thì FPT sẽ nhanh chóng mất phần lớn thị trường Internet cho cá nhân. Ở VN còn có trường hợp Mobifone, sau khi bị tách ra khỏi VNPT, Mobifone chỉ có mạng không dây chứ hầu như không có hạ tầng cáp thuê bao cung cấp dịch vụ Internet cố định. Nếu Mobifone không kịp liên kết với các nhà cung cấp có mạng lưới cáp thuê bao, thì Mobifone sẽ bị mất thị phần trong cuộc đua 4 trong 1.

Các ứng dụng: từ sát thủ đến đuôi dài

long-tail-of-applications.jpgCác phần mềm ứng dụng trên Internet quan trọng vì bản chất người dùng trả cước cho ISP để sử dụng các phần mềm và truy cập các nội dung số. Các công ty công nghệ đa quốc gia luôn chiếm thị phần chính ở những phần mềm phổ biến nhất như mạng xã hội, hội thoại, email, tin nhắn, trình duyệt web, tìm kiếm web, chụp ảnh, quay phim, lưu trữ và chia sẻ file, vv, gọi chung là nhóm “Ứng dụng sát thủ” (Killer apps) còn lại phân khúc vô vàn các ứng dụng chuyên dụng và game thì được chia thị phần bởi vô vàn các công ty nhỏ, mệnh danh là phân khúc đuôi dài (long tail). Các công ty lớn thường không muốn dính vào cái đuôi dài vì mô hình quản trị của công ty lớn không phù hợp để kiểm sát phân khúc thị trường “đuôi dài” này.

Cạnh tranh giữa ngang và dọc

Không chỉ riêng các công ty đa quốc gia khổng lồ quan tâm đến phân khúc “Ứng dụng sát thủ”, các ISP cũng luôn cố sức cạnh tranh thị phần trong nhóm này. Thường là cạnh tranh bằng cách hợp tác cùng các công ty khác có sẵn phần mềm phù hợp rồi tận dụng lợi thế sân nhà để cạnh tranh, đặc biệt là lợi thế bán kèm (bundle). Có thể mô tả là các công ty đa quốc gia cạnh tranh theo chiều dọc, dựa trên lợi thế quy mô lớn, sản phẩm tốt, còn ISP cạnh tranh theo chiều ngang, dựa trên lợi thế bản địa hóa và tích hợp bán kèm vào các dịch vụ có sẵn để giảm chi phí vận hành. Xu hướng ISP tìm cách cung cấp thêm nhiều ứng dụng chính là xu hướng hội tụ nhà cung cấp.

Để cung cấp nhiều dịch vụ trên nền Internet, các ISP cần phải hợp tác với công ty khác có sản phẩm chứ ít có cơ hội tự tạo ra sản phẩm vì từ ngày đầu thành lập, ISP đã không hội tụ tính sáng tạo trong bộ máy lãnh đạo và các nhân sự nòng cốt, nên năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) và tính sáng tạo của ISP thua kém các cty đa quốc gia rất xa. Ví dụ thời đầu của Internet, các ISP cung cấp dịch vụ email như một phần cơ bản nhưng rồi Hotmail, Yahoo! Mail, GMail lần lượt xuất hiện và bùng nổ, cung cấp miễn phí email nhưng vẫn kiếm được tiền. Dịch vụ email của ISP nhanh chóng đi vào tuyệt chủng. Cả ngành ISP đều không xoay chuyển được vì cả tập thể nhìn chung không có tư duy phù hợp. Mặt khác các ISP cạnh tranh lẫn nhau trực tiếp, đồng thời nhiều ISP còn đe dọa cạnh tranh với các công ty nhỏ nên rất nhiều khách hàng tiềm năng sẽ tẩy chay, không bao giờ sử dụng sản phẩm của ISP làm ra, khiến cho việc R&D trong ISP trở nên lãng phí khi không tiếp cận được quy mô thị trường đủ lớn.

Bài học sai lầm ở Việt Nam

Ở VN, các ISP như Viettel, Mobifone và Vinaphone đều đã ham ôm vô số ứng dụng con con. Kiểu ứng dụng nghe nhạc xem phim cũng muốn sở hữu mã nguồn và toàn hệ thống, theo tư tưởng làm tất ăn cả, tự sản tự tiêu. Thậm chí hẹp hòi tới mức lúc đầu ISP thỏa thuận cùng khai thác cùng ăn chia với công ty khác để giảm rủi ro. Sau 1 thời gian thấy đối tác thu được lợi nhuận lớn thì ISP bắt phải bán lại cho ISP với giá rẻ. ISP thường đe dọa không bán rẻ thì sẽ chấm dứt hợp đồng rồi thuê bên khác vào làm lại từ đầu. Lợi ích trước mắt của việc thôn tính đối tác đương nhiên là ISP sẽ tăng tỷ suất lợi nhuận, nhưng cùng lúc sẽ triệt tiêu hết động lực sáng tạo, khiến dịch vụ ko phát triển được về chiều sâu. Các dịch vụ khác trên thế giới thì liên tục phát triển. Rốt cục sau 1 thời gian, các dịch vụ trong tay ISP đều èo uột, chất lượng phần mềm ngày càng kém so với các phần mềm hàng đầu trên thế giới, thậm chí kém so với các cty tư nhân trong nước làm cách dịch vụ tương tự bằng cả tâm huyết của đội ngũ sáng lập. Tất nhiên cũng phải trách các công ty phần mềm nhỏ ở VN đã không có công nghệ lõi đủ mạnh để có tư cách đàm phán ngang hàng với ISP.

Tương lai thu cước như thế nào

Minneapolis free wireless hotspotCác ứng dụng dạng đuôi dài được sở hữu rải rác bởi nhiều công ty trên khắp toàn cầu, các ISP không sơ múi được lợi nhuận của họ, chỉ thu được tiền cước truyền dữ liệu là chính. Mà nói về dữ liệu, 2/3 dữ liệu Internet hiện nay là video (bao gồm âm thanh, hình ảnh động và trường hợp đặc biệt là ảnh tĩnh). Mà rồi video tiến tới sẽ chiếm 90% Internet hoặc hơn vì mấy cái khác hầu như chỉ là text và các thông tin nhỏ, chiếm băng thông không đáng kể. Ở một số nước phát triển, dịch vụ truy cập web tốc độ chậm được coi là dịch vụ công ích được cung cấp miễn phí, chỉ tốc độ cao mới phải trả tiền, và các nước kém phát triển hơn rồi cũng nhanh chóng đi theo xu hướng này. Như vậy suy ra trong tương lai gần, các ISP chủ yếu chỉ thu được cước từ các loại hình video! Theo truyền thống thì các ISP thu cước truyền dữ liệu, nhưng ISP rất sợ bị rơi vào mô hình “cái ống ngu ngốc” (dumb pipe), nên ISP có thoát ra bằng cách bán theo mô hình “cái ống thông minh” (smart pipe), hoặc là bán theo dạng nền tảng công nghệ, giúp các nhà cung cấp khác nhau cùng khai thác nền tảng đó để bán cho người tiêu dùng.

Tương lai của NamVision trong bối cảnh trên

Nếu giả định trên là đúng thì bộ sản phẩm phần cứng + phần mềm toàn diện của VP9 (NamVision) là nhóm ứng dụng quan trọng giúp ISP sống sót trong kỷ nguyên mới, chỉ đứng sau tầm quan trọng của chính bản thân hạ tầng mạng mà thôi. ISP nào mua hoặc hợp tác với VP9 thì có thể tạo ra một gói dịch vụ thiết yếu mà hầu như người tiêu dùng nào cũng cần tới, mà quan trọng là gói dịch vụ đó đạt được giá thành rẻ nhất, chi phí truyền dẫn thấp nhất và đảm bảo vùng phủ sóng tối đa, vì nén video làm giảm băng thông không chỉ giúp giảm giá thành vận hành và tăng độ hài lòng của khách hàng mà còn giúp dịch vụ hoạt động tốt cả trong những vùng lõm sóng.